nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong thú y

Khi dùng kết hợp với các kháng sinh nhóm aminoglycoside cần theo dõi chức năng thận trong suốt thời gian điều trị. Cơ Chế Tác Dụng : Cefoperazone kháng sinh bán tổng hợp nhóm cephalosporin thế hệ 3, có tác dụng diệt khuẩn do ức chế sự tổng hợp thành tế bào vi khuẩn đang phát Dữ liệu từ nuôi cấy vi khuẩn và thử nghiệm kháng sinh sẽ có thể giúp bác sĩ lựa chọn sơ đồ phối hợp thuốc kháng sinh có hiệu quả nhất để tiêu diệt hết chúng. Cách đọc kháng sinh đồ Khi bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng, mẫu bệnh phẩm sẽ được lấy từ những vị trí có khả năng nhiễm trùng. Thường là vết thương, nước tiểu, máu, đờm, dịch mũi,… Văn Nam. (TBTCO) - Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, lạm dụng kháng sinh, điều trị kháng sinh khi không cần thiết đã làm gia tăng tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. Đây là nhấn mạnh của Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên tại Hội nghị Dược lâm 6. Mở rộng phổ kháng khuẩn. 7. Loại trừ nguy cơ xuất hiện chủng đề kháng. 8. Đạt được tác dụng diệt khuẩn nhanh và mạnh. 9. Phối hợp kháng sinh làm số kháng sinh cần sử dụng nhiều hơn đưa đến giá cả điều trị tăng cao và nhất là tỷ lệ bị tác dụng phụ do Thuốc thú y- Vacxin. Kiên định theo con đường "an toàn sinh học", Greengroup chuyên sản xuất, kinh doanh và phân phối các loại vaccine, thuốc bổ trợ, kháng sinh, thuốc sát trùng, sản phẩm thuốc tiêm và trộn thức ăn, trị ký sinh trùng…. đảm bảo vật nuôi luôn trong vòng an toàn, mang lại hiệu quả cao cho người chăn Tìm hiểu về các dưỡng chất thiết yếu để đánh giá, so sánh các loại sữa là nguyên tắc không thể bỏ qua khi cân nhắc, chọn lựa sản phẩm sữa giúp cho sự phát triển của trẻ tốt nhất, đặc biệt là phát triển trí não trong những năm đầu đời. Một số dưỡng chất Vay Tiền Nhanh Ggads. Bảng nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong Thú y Việc phối hợp kháng sinh nhằm 3 mục đích Tăng khả năng diệt khuẩn. Điều trị trường hợp nhiễm nhiều loại vi khuẩn. Giảm khả năng xuất hiện chủng vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, kháng sinh có nhiều nhóm, nhiều loại nên việc nhớ để phối hợp đúng là điều không dễ dàng kể cả bác sĩ y khoa. Thực tế trong công tác điều trị, người ta “gom” kháng sinh làm 2 nhóm lớn Nhóm A Beta-lactam Penicillin, Ampicillin, Amoxcillin, Cephalosporin, Cephalexin, Cephalothin, Cephalor… Aminosid Streptomycin, Gentamycin, Neomycin, Kanamycin, Apramycin, Spectinomycin… Nhóm B Phenicol Chloramphenicol đã cấm sử dụng, Thiamphenicol, Florphenicol Cyclin Tetracyclin, Oxytetracyclin OTC, Chlortetracyclin CTC, Doxycycline Macrolid Erythromycin, Spiramycin, Oleandomycin, Tylosin, Tiamulin Nguyên tắc phối hợp A+A phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm A tác dụng hiệp đồng tăng tác dụng; Ví dụ điển hình Peni + Strep B+B phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm B không hiệp đồng, không đối kháng, chỉ tác dụng đơn thuần “việc ai nấy làm” A+B phối hợp 1 kháng sinh nhóm A & 1 kháng sinh nhóm B tác dụng đối kháng mất tác dụng Dung môi hòa tan, tá dược… là những yếu tố không kém phần quan trọng nên khuyến cáo đối với người chưa có kinh nghiệm là nên sử dụng kháng sinh, sulfamid đã được các nhà sản xuất phối hợp sẵn. Ví dụ Shotapen LA – Virbac Peni + Strep, Codexin – Bio Ampi + Colistin, Septryl 240 – Minh Dũng Sulfamethoxypyridazin + Trimethoprim, Genta-Tylo, Linco-Spec, Amox-Genta, Ampi-Kana, Tylo-Spec, DOC OTC + Colistin + Dexa, Sone CTC + Thiam + Dexa… Vì phối hợp kháng sinh có nghĩa số kháng sinh dùng nhiều hơn đưa đến giá cả điều trị tăng cao và nhất là tỷ lệ bị tác dụng phụ do thuốc nhiều hơn nên sự phối hợp đòi hỏi thận trọng và cân nhắc tối đa. Cần khu trú một số trường hợp cần phối hợp kháng sinh, có thể kể như sau Khi bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn như bị áp-xe não có khi phải phối hợp 3 loại kháng sinh thuộc loại đặc biệt vancomycin + cefotaxim + metronidazol. Sốc nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn nặng chờ kết quả xét nghiệm thường phối hợp beta–lactam + aminosid. Nhiễm khuẩn giảm bạch cầu hoặc bị suy giảm miễn dịch có khi phải phối hợp tobramycin + ticarcillin. Viêm màng trong tim penicillin + aminosid hoặc đối phó với đề kháng vancomycin + aminosid. Lao, brucellose điều trị lao thường phải phối hợp 3 kháng sinh. Nhiễm loại vi khuẩn đặc biệt pseudomonas aeruginosa, enterobacter, serratia, citrobacter, listeria, enterococcus do các loại vi khuẩn này rất dễ đột biến tạo chủng đề kháng như trị có khi dùng ceftazidim + amikacin. Khi dùng loại kháng sinh cần phải phối hợp với kháng sinh khác vì nếu dùng một mình kháng sinh này rất dễ bị đề kháng rifampicin, acid fusidic, fosfomycin. Hai kháng sinh phối hợp nên cùng loại tác dụng, hoặc cùng có tác dụng hãm khuẩn hoặc cùng có tác dụng diệt khuẩn – Hãm khuẩn còn được gọi kìm khuẩn, tĩnh khuẩn, trụ khuẩn hay “ngưng trùng”, bacteriostatic là đặc tính của loại kháng sinh chỉ ức chế sự phát triển của vi khuẩn chứ không tiêu diệt. – Diệt khuẩn bactericidal là đặc tính của kháng sinh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn. Ta chỉ dùng kháng sinh hãm khuẩn trong trường hợp cơ thể còn sức, vì thuốc chỉ làm vi khuẩn ngưng phát triển, yếu đi và hệ thống đề kháng của cơ thể sẽ làm nhiệm vụ tiêu diệt chúng. Nếu bị nhiễm khuẩn nặng, cơ thể bị suy yếu, bắt buộc phải dùng kháng sinh diệt khuẩn. Không phối hợp kháng sinh hãm khuẩn và kháng sinh diệt khuẩn vì sẽ đưa đến hiệu ứng đối kháng. Ví dụ kháng sinh nhóm beta-lactam trong đó có cefalexin và amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn do ngăn chặn sự tổng hợp lớp vỏ bao bọc của vi khuẩn, vi khuẩn không có vỏ bọc cơ thể nó sẽ vỡ tung xem như bị tiêu diệt, và tác dụng diệt khuẩn này chỉ phát huy khi vi khuẩn còn có sự phát triển tốt, tổng hợp được lớp vỏ. Nếu phối hợp kháng sinh beta–lactam với một kháng sinh có tác dụng hãm khuẩn như tetracyclin, cloramphenicol… xem như beta–lactam bị đối kháng không còn tác dụng. Bởi vì kháng sinh hãm khuẩn thường tác động đến ribosom một bộ phận trong cơ thể vi khuẩn giúp nó tổng hợp protein để phát triển, tăng trưởng làm ribosom không hoạt động tức là làm cho vi khuẩn không còn phát triển, tuy không chết nhưng ngưng phát triển, không tiếp tục tổng hợp lớp vỏ bọc là đích tác dụng mà beta–lactam tác động vào. Cơ chế tác động của một số loại kháng sinh đối với vi khuẩn Ở đây, cần nêu một số trường hợp đặc biệt. Kháng sinh nhóm aminosid như streptomycin, gentamycin, kanamycin… tuy tác động vào ribosom nhưng lại có tác dụng diệt khuẩn chứ không có tác dụng hãm khuẩn như tetracyclin. Vì vậy, có thể phối hợp thuốc nhóm beta–lactam với nhóm aminosid. Kháng sinh cotrim còn gọi là cotrimoxazol, biệt dược thông dụng bactrim thực sự là thuốc phối hợp hai kháng sinh sulfamethoxazol là một sulfamid với một kháng sinh khác là trimethoprim. Sulfamethoxazol và trimethoprin là hai kháng sinh hãm khuẩn nhưng khi phối hợp trong cotrim thì lại đạt được tác dụng hiệp đồng synergism là diệt khuẩn. Erythromycin được xem là kháng sinh hãm khuẩn vì tác động trên ribosom của vi khuẩn nhưng nếu khi dùng, đạt được nồng độ thuốc trong máu cao sẽ có tác dụng diệt khuẩn. Vì vậy, có khi erythromycin được phối hợp với kháng sinh diệt khuẩn. Nếu không rõ điều vừa kể, ta sẽ thắc mắc đối với chỉ định phối hợp erythromycin với cotrim cotrim như đã trình bày, phối hợp sẵn hai kháng sinh đạt được tác dụng diệt khuẩn, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một mình cotrim đủ để trị bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, có một số nhà điều trị vẫn phối hợp nó với kháng sinh khác, thậm chí thắc mắc với thuốc đã phối hợp sẵn do Việt Nam sản xuất có tên erybactrim, sulferycin. Hai kháng sinh phối hợp không thuộc cùng một cơ chế tác dụng hoặc không gây độc trên cùng một cơ quan Ví dụ như không nên phối hợp hai beta-lactam vì cùng tác động trên vỏ của tế bào vi khuẩn hoặc không phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm aminosid vì nhóm aminosid gây độc đối với tai và thận, nếu phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm sẽ làm điếc và suy thận trầm trọng trong khi hiệu quả trị bệnh lại không tăng. Hai kháng sinh phối hợp không kích thích sự đề kháng Ví dụ như không phối hợp cefoxitin với penicillin vì cefoxitin kích thích vi khuẩn đề kháng với penicillin bằng cách tiết ra enzym phân hủy kháng sinh phối hợp với nó. Những điều trình bày ở trên cho thấy lý do vì sao có khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh khi có chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ thú y. Bởi vì có nhiều vấn đề liên quan đến sử dụng kháng sinh chỉ có người sành chuyên môn am tường, trong đó có phối hợp kháng sinh. Đối với thắc mắc về sự phối hợp cephalexin hoặc amoxicillin với cotrim, sự phối hợp này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc phối hợp hai kháng sinh cùng loại diệt khuẩn chỉ có vấn đề cần xem xét là sự phối hợp này có thật sự cần thiết. Còn vấn đề phối hợp penicillin và streptomycin, tuy không trái với nguyên tắc phối hợp kháng sinh nhưng được khuyến cáo không nên phối hợp bởi vì streptomycin hiện nay là loại kháng sinh dùng rất hạn chế chỉ dùng làm thuốc kháng lao, thay vì phối hợp ta đã có nhiều kháng sinh mới dùng đơn độc đạt hiệu quả hơn so với sự phối hợp này. Hiệu quả điều trị bệnh do nhiễm vi khuẩn phụ thuộc Phát hiện bệnh kịp thời sớm; Chẩn đoán chính xác đúng bệnh; Sử dụng kháng sinh đúng nguyên tắc lựa chọn kháng sinh phù hợp mầm bệnh, dùng đúng liều lượng & liệu trình; trợ sức, trợ lực, chăm sóc tốt.

nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong thú y